TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN THÁNG 12 VÀ NĂM 2025

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên (GRDP) quý IV/2025 theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 5.130,52 tỷ đồng, tăng 8,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,41%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 13,88%; khu vực dịch vụ tăng 8,23%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,02%.  

GRDP năm 2025 theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 17.547,78 tỷ đồng, tăng 7,34% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 8,08%; quý II tăng 4,68%; quý III tăng 8,02%; quý IV tăng 8,78%). Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản đạt 2.618,54 tỷ đồng, tăng 2,94%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 3.787,7 tỷ đồng, tăng 8,52% (công nghiệp tăng 8,8%); khu vực dịch vụ đạt 10.400,69 tỷ đồng, tăng 8,16%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 740,85 tỷ đồng, tăng 6,2%. 

Trong mức tăng 7,34% của năm 2025, các ngành, lĩnh vực đều duy trì được mức tăng trưởng khá và đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Cụ thể: Nhóm ngành nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 0,46 điểm %; nhóm ngành công nghiệp - xây dựng đóng góp 1,82 điểm % (trong đó: công nghiệp đóng góp 0,69 điểm %; xây dựng đóng góp 1,13 điểm %); nhóm ngành dịch vụ đóng góp 4,8 điểm % (là nhóm có tỷ trọng cao nhất trong mức tăng trưởng); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,26 điểm %.

GRDP năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 35.657,32 tỷ đồng, tăng 13,69% so với cùng kỳ năm trước, đạt 99,23% kế hoạch. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 5.126,37 tỷ đồng, tăng 6,43%, vượt 4,52% kế hoạch; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 7.748,02 tỷ đồng, tăng 24,79%, đạt 93,25%; khu vực dịch vụ đạt 21.278,44 tỷ đồng, tăng 11,98%, vượt 0,18%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 1.504,49 tỷ đồng, tăng 12,48%, vượt 1,57%.

Cơ cấu nền kinh tế năm 2025 chuyển dịch cơ bản theo đúng định hướng. Cụ thể: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,38%, giảm 0,98 điểm % so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 21,73%, tăng 1,93 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 59,67%, giảm 0,91 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,22%, giảm 0,04 điểm %. Tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2025 đạt gần 54 triệu/người/năm, tăng 11,86% so với cùng kỳ năm trước.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp năm 2025 chịu nhiều tác động bất lợi do thời tiết diễn biến phức tạp, gây thiệt hại tại một số địa phương và ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền và việc triển khai kịp thời các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt được những kết quả tích cực. Cơ cấu cây trồng tiếp tục được chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị, nhất là chuyển đổi một số cây trồng giá trị thấp trên đất dốc sang cây công nghiệp và cây ăn quả; đàn gia súc, gia cầm cơ bản ổn định; công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường; hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản được duy trì, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn.

2.1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

* Tháng 12 năm 2025:

Gieo trồng cây vụ đông 2026: Đến thời điểm 20/12/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 2.648,25 ha , tăng 52,33% so với cùng kỳ. Cùng thời điểm này, các địa phương đang làm đất chuẩn bị cho gieo trồng lúa vụ đông xuân 2026.

Cây lâu năm: Tập trung chăm sóc những diện tích hiện có, đồng thời phát cỏ, tỉa cành, bón phân để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt; tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong kỳ phục vụ nhu cầu thị trường.

Trong tháng, các ngành chức năng đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương thường xuyên kiểm tra cây trồng, phun thuốc phòng trừ kịp thời không để sâu, bệnh gây hại cây trồng lây lan ra diện rộng. Tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại trong tháng 1.596 ha , tăng 23,6 ha; diện tích phòng trừ 98 ha.

* Sơ bộ năm 2025:

Cây hàng năm: Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm năm 2025 giảm do tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững, chuyển đổi cơ cấu các loại cây trồng có giá trị thấp trên đất dốc sang trồng cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả có giá trị cao.

Toàn tỉnh đã gieo trồng được 102.238,04 ha, giảm 3,88% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực năm 2025 ước đạt 285.049,53 tấn, giảm 0,69% so với năm trước và đạt 98,72% kế hoạch. Một số cây trồng trọng điểm của tỉnh trong năm như sau:

- Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 52.380,72 ha, giảm 4,09% so cùng kỳ, đạt 96,77% kế hoạch; năng suất bình quân 39,86 tạ/ha, tăng 4%; sản lượng đạt 208.772,93 tấn, giảm 0,25%, đạt 99,55% kế hoạch. Trong đó: (1) Lúa ruộng với diện tích gieo trồng 31.037,65 ha, giảm 0,27%; năng suất bình quân 56,88 tạ/ha; sản lượng 176.544,89 tấn; (2) lúa nương với diện tích gieo trồng 21.343,07 ha, giảm 9,15% ; năng suất 15,1 tạ/ha; sản lượng đạt 32.228,04 tấn.

- Cây ngô: Tổng diện tích gieo trồng được 24.211,03 ha, giảm 2,65%, đạt 99,5% kế hoạch; năng suất đạt 31,5 tạ/ha; sản lượng đạt 76.276,6 tấn, giảm 1,87%, đạt 96,5% kế hoạch.

- Cây lấy củ có chất bột: Tổng diện tích gieo trồng được 17.377,96 ha, giảm 6,1%. Trong đó: Sắn diện tích đạt 15.783,3 ha, giảm 6,24% , sản lượng đạt 152.114,74 tấn, giảm 3,36%; dong giềng diện tích đạt 855,13 ha, tăng 7,56%, sản lượng đạt 8.185,03 tấn, tăng 8,59%; khoai sọ diện tích đạt 362,43 ha, tăng 15,92% , sản lượng đạt 3.275,28 tấn, tăng hơn 16,55%.

- Cây có hạt chứa dầu: Diện tích gieo trồng đạt 1.492,26 ha, giảm 4,43%. Trong đó: Đậu tương diện tích đạt 449,94 ha, giảm 12,62%, sản lượng đạt 550,97 tấn, giảm 11,66%; lạc diện tích đạt 1.042,32 ha, giảm 0,4%, sản lượng đạt 1.449,56 tấn, tăng 0,15%.

- Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 5.149,23 ha, tăng 0,72%, sản lượng đạt 95.127,74 tấn, tăng 0,49%. 

Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh năm 2025 đạt được kết quả khá, góp phần giúp tăng trưởng giá trị sản xuất cho ngành nông nghiệp; tiếp tục triển khai trồng mới một số loại cây lâu năm trọng điểm như Mắc ca, Cà phê; đồng thời chuyển đổi mục đích, cơ cấu cây trồng phù hợp mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Tổng diện tích hiện có đạt 31.551,94 ha, tăng 18,72% so với cùng kỳ năm trước (nhóm cây ăn quả đạt 15.910,65 ha, tăng 7,89%, chiếm 50,43% tổng diện tích cây lâu năm; nhóm cây công nghiệp đạt 13.789,08 ha, tăng 35,07%). Diện tích hiện có, sản lượng thu hoạch một số loại cây lâu năm:

- Cây ăn quả: Mắc ca 11.804,89 ha, tăng 10,51% , sản lượng thu hoạch 973,28 tấn, giảm 31,45%; xoài 691,07 ha, giảm 1,05%, sản lượng đạt 1.593,48 tấn, tăng 3,5%; dứa 691,54 ha, tăng 18,49%, sản lượng thu được 7.832,52 tấn, tăng 26,54%; nhãn 424,46 ha, tăng 0,28%, sản lượng thu hoạch 1.922,91 tấn, tăng 119,42% ; bưởi 336,42 ha, giảm 9,82%, sản lượng thu hoạch 2.556,79 tấn, tăng 2,85%; cam 175,91 ha, giảm 12,97%, sản lượng thu hoạch 728,03 tấn, giảm 0,78%.

- Cây công nghiệp lâu năm: Cao su 5.018,46 ha, giảm 0,07%; sản lượng đạt 5.823,27 tấn, tăng 2,88%; cà phê 8.120,71 ha, tăng 78,84%, sản lượng thu hoạch 6.025,06 tấn, tăng 24,78% ; chè búp 631,99 ha, tăng 0,48%, sản lượng thu hoạch đạt 212,4 tấn, tăng 6,98%.

- Cây dược liệu lâu năm: Sa nhân 1.795,79 ha, tăng 14,63% ; sản lượng đạt 99,26 tấn, tăng 9,95%.

b) Chăn nuôi

Tình hình phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh chịu tác động bất lợi từ diễn biến phức tạp của Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, làm gia tăng nguy cơ thiệt hại và ảnh hưởng đến việc phát triển đàn lợn. Trước tình hình đó, người chăn nuôi đã chủ động chuyển đổi phương thức sản xuất, giảm chăn thả tự nhiên, tăng cường nuôi nhốt tập trung và phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng trang trại, gia trại. Việc áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và bảo vệ vật nuôi trong mùa giá rét được thực hiện hiệu quả hơn, góp phần giữ ổn định quy mô đàn gia súc, gia cầm.

Trong tháng, có 72 con lợn bị chết và tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 08/45 xã, phường. Công tác kiểm dịch động vật được 1.121 con gia súc, 1.020 kg thịt trâu bò lợn xuất ngoài tỉnh; công tác tiêm phòng 533.338 liều vắc xin các loại.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng gia súc, gia cầm ước năm 2025 có xu hướng tăng, do trên địa bàn tỉnh các hoạt động văn hóa, sự kiện được tổ chức thường xuyên, góp phần thu hút khách du lịch. Qua đó, nhu cầu tiêu thụ các loại thịt phục vụ kinh doanh dịch vụ ăn uống và chế biến các sản phẩm đặc sản địa phương tăng so với cùng kỳ.

Tình hình thiệt hại do dịch bệnh trong năm : Bệnh dịch tả lợn Châu Phi còn xảy ra trên diện rộng, diễn biến phức tạp, số lợn chết và tiêu hủy 13.063 con. Công tác kiểm dịch động vật được 15.945 con gia súc; 14.681 kg thịt trâu bò lợn xuất ngoài tỉnh; công tác tiêm phòng 663.839 liều vắc xin các loại. 

2.2. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung trong quý IV/2025 ước đạt 93,64 ha, giảm 92,97% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.425 m3, tăng 0,2%; sản lượng củi khai thác đạt 205.098 ster, tăng 0,91%. Tính chung năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 285,46 ha, giảm 80,36% so với cùng kỳ năm trước, vượt 43,45% so với kế hoạch (rừng sản xuất 93,64 ha, giảm 91,58%; rừng phòng hộ 191,82 ha, giảm 43,86%); số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 788,97 nghìn cây, tăng 58,03% ; sản lượng gỗ khai thác đạt 11.802 m3, giảm 2,44%; sản lượng củi khai thác đạt 787.920 ste, tăng 0,26%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý IV/2025 là 5,06 ha, giảm 37,68% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, toàn tỉnh có 97,63 ha rừng bị thiệt hại, giảm 16,8% so với cùng kỳ (diện tích rừng bị chặt, phá là 96,91 ha, tăng 1,46%; diện tích rừng bị cháy là 0,72 ha, giảm 96,7%).

Trong năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 372 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp ; cơ quan chức năng thu giữ 50,46 m3 gỗ các loại, tổng số tiền thu nộp là 1.963,58 triệu đồng.

2.3. Thủy sản

Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh được duy trì, toàn tỉnh dự ước có 2.850,63 ha ao, hồ nuôi trồng thủy sản, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích nuôi cá 2.849,13 ha). Mô hình nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm và đầu tư 335 lồng với thể tích 45.626 m³, mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với 600 m3.

Sản lượng thủy sản tháng 12/2025 ước đạt 457,94 tấn, tăng 3,69% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản quý IV/2025 ước đạt 1.368,64 tấn, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước (bao gồm: Cá đạt 1.339,51 tấn, tăng 4,07%; tôm đạt 11,25 tấn, tăng 2,27%; thủy sản khác 17,88 tấn, tăng 2,05%). Tính chung năm 2025, sản lượng thủy sản ước đạt 5.174,32 tấn, tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, vượt 3,31% kế hoạch tỉnh giao (nuôi trồng đạt 4.874,33 tấn, tăng 3,9%; khai thác đạt 299,99 tấn, tăng 3,06%).

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 12/2025 ước đạt 433,62 tấn, tăng 3,7% so với thực hiện cùng kỳ năm trước (bao gồm: Cá đạt 430,1 tấn, tăng 3,72%; tôm đạt 1,34 tấn, tăng 1,52%; thủy sản khác 2,18 tấn, tăng 1,87%). Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý IV/2025 ước đạt 1.294,06 tấn, tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước (bao gồm: Cá đạt 1.283,40 tấn, tăng 4,08%; tôm đạt 4,68 tấn, tăng 3,31%; thủy sản khác 5,98 tấn, tăng 1,87%). Tính chung năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.874,33 tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, vượt 3,59% kế hoạch (bao gồm: Cá đạt 4.823,78 tấn, tăng 3,92%; tôm đạt 15,32 tấn, tăng 2,34%; thủy sản khác 35,23 tấn, tăng 1,67%).

Sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 12/2025 ước đạt 24,32 tấn, tăng 3,49% so với thực hiện cùng kỳ năm trước (bao gồm: Cá đạt 18,06 tấn, tăng 3,91%; tôm đạt 2,31 tấn, tăng 1,76%; thủy sản khác 3,95 tấn, tăng 2,6%). Sản lượng thủy khai thác quý IV/2025 ước đạt 74,58 tấn, tăng 3,41% so với cùng kỳ năm trước (bao gồm: Cá đạt 56,11 tấn, tăng 3,91%; tôm đạt 6,57 tấn, tăng 1,55%; thủy sản khác đạt 11,9 tấn, tăng 2,15%). Tính chung năm 2025, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 299,99 tấn, tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước, đạt 98,9% kế hoạch (bao gồm: Cá đạt 213,55 tấn, tăng 3,35%; tôm đạt 28,23 tấn, tăng 1,77%; thủy sản khác 58,21 tấn, tăng 2,65%).

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp quý IV/2025 tăng trưởng tích cực, tốc độ tăng giá trị tăng thêm ước đạt 11,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 8,8% so với năm trước.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,8% so với năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,95%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,35%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 10,58%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,81%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 12 năm 2025 ước tăng 0,76% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành khai khoáng tăng 6,14% và tăng 10,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chế tạo tăng 7,87%  và tăng 11,45%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 16,31%  và tăng 21,3% ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,26% và tăng 8,22%.

Quý IV năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính giảm 19,6% so quý trước và tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 59,97% và tăng 11,76%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,46% và tăng 12,1%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 62,44% và tăng 16,97%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,79% và tăng 7,24%. 

Ước tính năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 15,73% ; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,55%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,98%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,49%.

Chỉ số sản xuất năm 2025 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non tăng 233,27%; sản xuất đồ uống tăng 20,79%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 17,85%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 16,29%; dệt tăng 14,34%. Ở chiều ngược lại, chỉ số sản xuất công nghiệp của một số ngành giảm so với cùng kỳ: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 29,91%; công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 1,31%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 1,26%.

Một số sản phẩm công nghiệp năm 2025 tăng cao và khá so với cùng kỳ năm trước: Than đá (than cứng) loại khác tăng 233,27%; sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) tăng 22,92%; xi măng Portland đen tăng 14,17%; giường bằng gỗ các loại tăng 10,71%; đá xây dựng khác tăng 9,63%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm tăng 8,39%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt thép tăng 8,76%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm sâu với cùng kỳ năm trước: Báo in (quy khổ 13cmx19cm) giảm 17,68%; nước không uống được giảm 2,75%; dịch vụ sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 0,62%.

Nhìn chung chỉ số IIP trong vòng 5 năm qua tăng, giảm không đồng đều giữa các ngành cấp 1, trong đó ngành sản xuất và phân phối điện phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố khách quan từ thời tiết nên ảnh hưởng đến kết quả dự báo sản lượng điện và chỉ số sản xuất chung của toàn ngành. Tuy nhiên, năm 2025 cả 4 ngành cấp 1 đều đạt được mức tăng trưởng dương, chứng tỏ đã có mối quan hệ tương quan, bổ trợ và cùng thúc đẩy phát triển.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12 năm 2025, tăng 13,83% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 542,67% so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng tồn kho lớn chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (sản phẩm xi măng Điện Biên tồn kho tăng 546,22%) dự trữ trong kho tăng cao để kịp thời đảm bảo nguồn hàng sẵn có, đáp ứng nhu cầu của những đơn hàng đột xuất từ những nhà thầu xây dựng các công trình lớn trên địa bàn tỉnh và các đơn hàng xuất khẩu ủy thác sang Lào qua các đại lý.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12 năm 2025 tăng 10,54% so với tháng trước và tăng 2,79% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 12 tháng tăng 10,02%, trong đó sản phẩm xi măng Điện Biên tăng 11,62%, đây là sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số tiêu thụ chung của toàn ngành chế biến.

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2025 giảm 0,05% so với tháng trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,13%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước không thay đổi. So với tháng cùng kỳ năm trước tăng 2,88%, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,16%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 5,64%. Ước tính năm 2025, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 4,04% (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,31%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 5,94%).   

4. Xây dựng 

Năm 2025 là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021–2025 của tỉnh Điện Biên, trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, thách thức; hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai gắn với điều chỉnh quy hoạch và thực hiện các dự án đầu tư, đặc biệt là các công trình hạ tầng và công trình trọng điểm. Tiến độ thực hiện dự án được cải thiện thông qua việc tháo gỡ vướng mắc trong giải phóng mặt bằng và điều chuyển vốn từ các dự án chậm tiến độ sang dự án khả thi hơn, qua đó góp phần duy trì sự ổn định của lĩnh vực xây dựng.

Giá trị tăng thêm ngành xây dựng năm 2025 theo giá so sánh 2010 đạt 2.397,75 tỷ đồng là mức khá cao, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,13 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành quý IV năm 2025 ước đạt 4.873,29 tỷ đồng, tăng 52,51% so với quý trước và tăng 27,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng ước đạt 13.130,26 tỷ đồng, tăng 15,66% so với cùng kỳ năm trước.

Chia theo loại hình sở hữu so với cùng kỳ năm trước: Doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3,44 tỷ đồng (chiếm 0,03%), giảm 98,96%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 7.888,83 tỷ đồng (chiếm 60,08%), tăng 28,91%; các loại hình khác bao gồm xây dựng của các xã, phường, hoạt động của các đội xây dựng cá thể và xây dựng tự làm, tự ở của các hộ gia đình đạt 5.237,99 tỷ đồng (chiếm 39,89%), tăng 6,87%.

Chia theo loại công trình so với cùng kỳ năm trước: Công trình nhà ở đạt 4.916,72 tỷ đồng (chiếm 37,45%), tăng 26,12%; công trình nhà không để ở đạt 2.474,9 tỷ đồng (chiếm 18,85%), giảm 3,41%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 5.449,18 tỷ đồng (chiếm 41,5%), tăng 17,61%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 289,46 tỷ đồng (chiếm 2,2%), tăng 12,07%.

Nhìn chung, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh đạt một số kết quả tích cực trong công tác quy hoạch và triển khai dự án. Nhiều quy hoạch quan trọng được hoàn thành và phê duyệt, cùng với việc triển khai các dự án xây dựng trọng điểm và phát triển đô thị. Công tác phát triển nhà ở và xây dựng trường học tại các xã biên giới được thực hiện theo kế hoạch, góp phần cải thiện hệ thống hạ tầng và tạo tác động lan tỏa đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Dự ước năm 2025, toàn tỉnh có 262 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 61,73% so với năm trước, tổng số vốn đăng ký 3.868 tỷ đồng, tăng 2,85 lần so với năm trước; 299 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đăng ký; có 74 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 161 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; giải thể 35 doanh nghiệp.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp 

Kết quả điều tra xu hướng sản xuất, kinh doanh quý IV cho thấy đây là giai đoạn cao điểm của ngành xây dựng, khi nhiều công trình trọng điểm và dự án xây dựng khu vực tư nhân được đẩy nhanh tiến độ hoàn thành. Việc gia tăng nhu cầu đối với nguyên vật liệu xây dựng và các mặt hàng thiết yếu phục vụ lực lượng lao động đã tạo thuận lợi mở rộng sản xuất, thúc đẩy doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tìm kiếm và ký kết đơn hàng mới, qua đó cải thiện rõ nét triển vọng kinh doanh trong quý.

Trong tổng số 14 doanh nghiệp tham gia điều tra, có 85,71% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh tốt hơn so với quý trước; 14,29% doanh nghiệp đánh giá không thay đổi; không có doanh nghiệp nào dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng đạt 85,71%, phản ánh xu hướng cải thiện khá rõ rệt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của khối doanh nghiệp được khảo sát.

Dự báo quý I năm 2026, các yếu tố tích cực tiếp tục được duy trì, đặc biệt là nhu cầu thị trường và tiến độ triển khai các dự án xây dựng chuyển tiếp. Theo đó, có 92,86% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh sẽ tốt hơn so với quý hiện tại; 7,14% doanh nghiệp dự báo không thay đổi; không có doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng đạt 92,86%, cho thấy kỳ vọng tăng trưởng của doanh nghiệp ở mức cao, tạo nền tảng thuận lợi cho sự phục hồi và mở rộng sản xuất công nghiệp trong thời gian tới, qua đó đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh.

6. Thương mại, dịch vụ, vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 

Hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng tháng cuối năm diễn ra sôi động. Khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng khá tích cực so với năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2025 tăng 17,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,07% so với năm trước. 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 năm 2025 ước đạt 2.554,5 tỷ đồng, tăng 2,55% so với tháng trước, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.516,89 tỷ đồng, tăng 2,81% so với quý trước và tăng 17,39% so với cùng kỳ năm trước. Ước năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 28.703,45 tỷ đồng, tăng 13,07% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá 

Doanh thu tháng 12 năm 2025 ước đạt 2.111,38 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước, tăng 17,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình hoạt động bán lẻ hàng hóa duy trì đà tăng trưởng ổn định, mức tăng ghi nhận ở hầu hết các nhóm ngành hàng, phản ánh sức mua lan tỏa tương đối đồng đều. Các hoạt động mua sắm, ăn uống, du lịch, lưu trú và các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tổng cầu tiêu dùng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong đó: Hàng lương thực, thực phẩm tăng 3,2% và 18,59%, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và dự trữ dịp cuối năm; hàng may mặc tăng 2,64% và 21,81%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,43% và 7,86%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 1,93% và 20,03%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,41% và 18,67% (là một trong các nhóm ngành có mức tăng khá cao, gắn với nhu cầu mua sắm hoàn thiện nhà ở và thi công công trình); ô tô con tăng 1,78% và 5,41%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) tăng 1,98% và 8,42%; xăng, dầu các loại tăng 1,83% và 21,19%; nhiên liệu khác tăng 1,99% và 24,13%, phản ánh tác động của biến động giá cả và nhu cầu phục vụ sản xuất, đi lại trong dịp cuối năm; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 2,19% và 17,81%; hàng hóa khác tăng 1,3% và 18,16%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 2,16% và 18,35%. 

Tính chung 12 tháng, ước đạt 23.560,01 tỷ đồng, tăng 12,92% so với cùng kỳ và tăng ở tất cả các ngành hàng, tăng cao ở một số nhóm: Xăng, dầu các loại tăng 23,43%; nhiên liệu khác tăng 26,17%; dịch vụ sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 20,04%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 16,02%; hàng may mặc tăng 15,13%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,15%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 13,41%.

* Dịch vụ lưu trú và ăn uống 

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 12 năm 2025 ước đạt 120,82 tỷ đồng, tăng 4,13% so với tháng trước và tăng 32,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV năm 2025 ước đạt 351,75 tỷ đồng, giảm 2,88% so với quý trước và tăng 31,39% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính năm 2025 đạt 1.459,09 tỷ đồng, tăng 7,73% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 188,27 tỷ đồng, tăng 14,67%; dịch vụ ăn uống đạt 1.270,83 tỷ đồng, tăng 6,77%.

* Dịch vụ khác

Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 12 năm 2025 ước đạt 312,71 tỷ đồng, tăng 1,62% so với tháng trước, tăng 19,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV năm 2025 ước đạt 951,85 tỷ đồng, tăng 1,64% so với quý trước và tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính năm 2025 đạt 3.678,9 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước.

b) Hoạt động Vận tải

Hoạt động vận tải tháng mười Hai duy trì đà tăng trưởng, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức làm tăng nhu cầu đi lại của hành khách; vận chuyển hàng hóa lưu thông sôi động dịp cuối năm. So với cùng kỳ, vận chuyển hành khách tháng 12 tăng 14,52% và luân chuyển hành khách tăng 13,35%; vận chuyển hàng hóa tăng 15,77% và luân chuyển hàng hóa tăng 15,76%. 

Quý IV/2025 so với cùng kỳ năm trước vận tải hành khách tăng 14,63% vận chuyển và tăng 13,4% luân chuyển; vận tải hàng hoá tăng 16,25% vận chuyển và tăng 16,4% luân chuyển. Tính chung năm 2025, vận chuyển hành khách tăng 3% và luân chuyển tăng 2,51%; vận chuyển hàng hóa tăng 17,63% và luân chuyển tăng 18,03% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng 12/2025 đạt 178,09 tỷ đồng, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV năm 2025, ước đạt 532,12 tỷ đồng, tăng 15,69% so cùng kỳ năm trước. Năm 2025, ước đạt 2.040,83 tỷ đồng, tăng 14,49% so cùng kỳ năm trước (bao gồm: Vận tải hành khách ước đạt 403,39 tỷ đồng, tăng 2,83%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.619,91 tỷ đồng, tăng 18,01%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 17,54 tỷ đồng, giảm 0,44%). 

Vận tải hành khách tháng 12/2025 ước đạt 314,30 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 0,48% so với tháng trước, tăng 14,52% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 49,19 triệu HK.km, tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 13,35% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 938,83 nghìn hành khách vận chuyển, tăng 14,63% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 146,93 triệu HK.km, tăng 13,4%. Năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 3.624,84 nghìn hành khách vận chuyển, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 568,32 triệu HK.km, tăng 2,51%.

Vận tải hàng hóa tháng 12/2025 ước đạt 918,55 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 15,77% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 42,03 triệu tấn.km, tăng 0,4% và tăng 15,76%. Quý IV năm 2025, vận tải hàng hóa đạt 2.744,85 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 125,6 triệu tấn.km, tăng 16,40%. Năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 10.533,75 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 17,63% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 480,7 triệu tấn.km, tăng 18,03%.

c) Bưu chính viễn thông

Bưu chính phát triển ổn định, hạ tầng viễn thông phát triển từng bước đáp ứng vai trò là hạ tầng số, hạ tầng kinh tế kỹ thuật quan trọng của Chính phủ số thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; chất lượng cung cấp dịch vụ viễn thông, internet được nâng cao, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thị trường.

Dịch vụ bưu chính tiếp tục phát triển ổn định, bảo đảm thông tin liên lạc trong dịp lễ, tết và các sự kiện nổi bật của tỉnh. Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông ước đạt 909.115 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,51% (doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát đạt 134.594 triệu đồng, tăng 0,25%; doanh thu dịch vụ viễn thông đạt 774.521 triệu đồng, tăng 0,6%).

Hạ tầng viễn thông ngày càng hoàn thiện, đồng bộ. Số thuê bao điện thoại ước đạt 560.000 thuê bao, so với năm trước tăng 17,31% (thuê bao cố định đạt 6.132 thuê bao, tăng 31,96%; thuê bao di động đạt 553.868 thuê bao, tăng 17,16%). Số thuê bao internet ước đạt 87.000 thuê bao so với cùng kỳ năm trước tăng 14,43%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng 

Ngành ngân hàng đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), chính quyền địa phương trong thực hiện quản lý hoạt động tài chính, tiền tệ trên địa bàn đảm bảo chặt chẽ, đúng định hướng; tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; hướng nguồn vốn tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực trọng tâm, thế mạnh trên địa bàn; kịp thời thực hiện các yêu cầu, giải pháp theo chỉ đạo để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân.

Thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ ổn định, không có diễn biến bất thường, các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các quy định và chỉ đạo của NHNN về lãi suất; áp dụng mức lãi suất cho vay hợp lý trên cơ sở lãi suất huy động và mức độ rủi ro của khoản vay, chia sẻ khó khăn với khách hàng, đảm bảo an toàn tài chính của tổ chức tín dụng. Lãi suất huy động và cho vay của các Chi nhánh NHTM trên địa bàn: 

- Lãi suất huy động bằng VND: Lãi suất 0,1-0,5%/năm đối với kỳ hạn dưới 1 tháng và không kỳ hạn; lãi suất tiền gửi 1 đến 6 tháng 1,6-6,0%/năm; lãi suất tiền gửi từ 6 đến 36 tháng 3,0-6,8%/năm; các ngân hàng duy trì mức lãi suất tiền gửi cao nhất là 4,9%/năm.

- Lãi suất cho vay trung và dài hạn áp dụng phổ biến ở mức 7-10%/năm; cho vay ngắn hạn từ 5,5-8,5%/năm (không thuộc các lĩnh vực ưu tiên), trong đó cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,0%/năm tại các chi nhánh NHTM và không quá 5%/năm tại các Quỹ tín dụng nhân dân.

Huy động vốn: Nguồn vốn huy động trên địa bàn tăng trưởng tốt, chủ yếu tăng ở nguồn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn; trong khi đó, nguồn huy động từ tiền gửi thanh toán và phát hành giấy tờ có giá giảm đáng kể. Tổng nguồn vốn tín dụng ước thực hiện đến 31/12/2025 là 23.608 tỷ đồng, tăng 10,65% so với cùng kỳ năm 2024 (tiền gửi tiết kiệm là 19.406 tỷ đồng, tăng 16,18; tiền gửi thanh toán ước đạt 4.202 tỷ đồng, giảm 8,89%). 

Hoạt động tín dụng: Dư nợ tín dụng cho vay nền kinh tế trên địa bàn tăng trưởng chậm. Tổng dư nợ tín dụng ước thực hiện đến 31/12/2025 là 22.925 tỷ đồng, giảm 0,74% so với cùng kỳ năm 2024 (dư nợ cho vay ngắn hạn là 6.521 tỷ đồng, giảm 7,58%; dư nợ cho vay trung, dài hạn là 16.404 tỷ đồng, tăng 2,26%). 

Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các NHTM, NHCSXH ước thực hiện đến ngày 31/12/2025 là 230 tỷ đồng, chiếm 1%/tổng dư nợ. 

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2025 tăng trưởng chưa đạt kỳ vọng, ước đạt 17.919,23 tỷ đồng, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước, đạt 64,12% kế hoạch. Trong đó: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước năm 2025 đạt 91,64% kế hoạch và giảm 1,87% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 12 năm 2025 ước đạt 590,24 tỷ đồng, tăng 29,77% so với tháng trước, giảm 27,66% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 569,38 tỷ đồng, tăng 31,13% và tăng 27,85%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 20,86 tỷ đồng, tăng 1,05% và tăng 22,8%. 

Ước tính quý IV năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 1.391,71 tỷ đồng, tăng 34,89% so với quý trước, tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.326,79 tỷ đồng, tăng 37,95% và tăng 12,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 64,92 tỷ đồng, giảm 7,18% và tăng 54,62%.

Ước tính năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 3.803,35 tỷ đồng, giảm 1,87% so với cùng kỳ năm trước, đạt 91,64% kế hoạch. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 3.623 tỷ đồng, giảm 3,79%, đạt 91,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 180,34 tỷ đồng, tăng 63,78%, đạt 99,06%.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên tháng 12 năm 2025 ước đạt 2.183,66 tỷ đồng, tăng 15,44% so với tháng trước, tăng 18,31% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 1.011,66 tỷ đồng, tăng 22,02% và tăng 21,17% (vốn Trung ương quản lý đạt 355,1 tỷ đồng, tăng 12,82% và tăng 7,9%; vốn địa phương quản lý đạt 656,56 tỷ đồng, tăng 27,65% và tăng 29,81%); vốn ngoài Nhà nước đạt 1.172 tỷ đồng, tăng 10,31% và tăng 15,95%. 

Ước tính quý IV năm 2025, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt  5.764,28 tỷ đồng, tăng 23,59% so với quý trước, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 2.020,73 tỷ đồng, tăng 26,83% và tăng1,28%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt  3.228,3 tỷ đồng, tăng 15,5% và tăng 15,79%.

Ước tính năm 2025, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 17.919,23 tỷ đồng, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước, đạt 64,12% kế hoạch. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 7.176,96 tỷ đồng, giảm 8,76%, đạt 56,44% (vốn Trung ương quản lý đạt 2.808,75 tỷ đồng, giảm 21,43%, đạt 35,1%; vốn địa phương quản lý đạt 4.368,22 tỷ đồng, tăng 1,8%, đạt 92,67%); vốn ngoài Nhà nước đạt 10.742,27 tỷ đồng, tăng 13,64%, đạt 70,53%.

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước năm 2025 ước tăng 36,19% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

a) Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 2.400,23 tỷ đồng, tăng 36,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Thu nội địa năm 2025 ước đạt 1.885,86 tỷ đồng (chiếm 78,57%), tăng 21,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn, tăng cao như: Thu từ doanh nghiệp nhà nước tăng 11,49%, chiếm 12,09%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12,31%, chiếm 20,23%; các khoản thu về nhà, đất tăng 57,31%, chiếm 22,21%.

Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu năm 2025 ước đạt 17,45 tỷ đồng (chiếm 0,73%), giảm 20,78% so với cùng kỳ năm trước. 

Thu viện trợ, các khoản huy động đóng góp năm 2025 ước đạt 496,92 tỷ đồng (chiếm 20,7%), tăng gần 1,7 lần so với cùng kỳ năm trước. 

b) Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 18.590,19 tỷ đồng, tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 4.414,8 tỷ đồng, chiếm 23,75%, giảm 13,41%; chi thường xuyên đạt 14.167,69 tỷ đồng, chiếm 76,21%, tăng 10,63%.

4. Hoạt động xuất - nhập khẩu 

Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến theo hướng ổn định, song vẫn tiềm ẩn các yếu tố tác động bất lợi. Trong năm không phát sinh tình trạng ùn tắc hàng hóa tại các cửa khẩu; tuy nhiên, quy mô và giá trị xuất nhập khẩu nhìn chung chưa có sự bứt phá, do hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu tập trung tại Cửa khẩu quốc tế Tây Trang và chịu ảnh hưởng bởi hạn chế về hạ tầng, thủ tục thông quan cũng như biến động tỷ giá.

Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 141,8 triệu USD, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước, vượt 1,29% kế hoạch. Trong đó: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 96,6 triệu USD, tăng 3,48%, vượt 1,68% kế hoạch, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng nông sản (gạo, chè, cà phê, mắc ca, chuối, mủ cao su...) và vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép…); kim ngạch nhập khẩu ước đạt 45,2 triệu USD, giảm 3,03%, vượt 0,44% kế hoạch, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là gỗ, hàng nông sản, máy móc thiết bị.

5. Giá cả

a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trong tháng, giá nhiều mặt hàng thực phẩm tiếp tục tăng; thời tiết lạnh, cùng nhu cầu tiêu dùng, mua sắm cuối năm và các hoạt động lễ hội... đã tác động làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2025 tăng 0,8% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,2% và so kỳ gốc năm 2024 tăng 4,94%. Quý IV năm 2025, CPI tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2025, CPI tăng 0,02% so với cùng kỳ năm trước. 

Trong mức tăng 0,8% của CPI tháng 12 năm 2025 so với tháng trước, có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 01 nhóm có chỉ số bình ổn và 01 nhóm hàng hoá có chỉ số giá giảm.

Các nhóm tăng giá chủ yếu do tác động của yếu tố mùa vụ, thời tiết lạnh và biến động chi phí đầu vào, làm nhu cầu tiêu dùng và mua sắm cuối năm tăng. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,38% , do giá lương thực, thực phẩm tăng vì gối vụ kéo dài, nhu cầu tích trữ và chế biến phục vụ vào dịp cuối năm; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,82% do chi phí vận chuyển, nhiên liệu và lưu kho tăng (nổi bật là rượu vang tăng 1,89%, rượu mạnh tăng 1,13%); nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,76%, chủ yếu do thời tiết lạnh làm nhu cầu mua sắm các mặt hàng giữ ấm tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,78% do nhu cầu sửa chữa nhà cửa, đẩy nhanh tiến độ các công trình cuối năm và nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,61%; nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,36%; nhóm giáo dục tăng 0,14%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01% do nhu cầu tiêu dùng, dịch vụ cá nhân cuối năm tăng; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,01%.

Nhóm có chỉ số giảm là nhóm giao thông, giảm 0,91% ; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giữ ổn định so với tháng trước.

CPI quý IV năm 2025 tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 09 nhóm hàng có chỉ số tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,89%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,25%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,28%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,41%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,71%; thông tin và truyền thông tăng 0,38%; giáo dục tăng 0,16%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,59%. Có 02 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tiêu dùng giảm: Giao thông giảm 0,17%; văn hóa và dịch vụ giải khác giảm 0,21% so với cùng kỳ năm trước. 

CPI bình quân năm 2025 tăng 0,02% so với bình quân cùng kỳ năm 2024, phản ánh mặt bằng giá cả cơ bản ổn định. CPI tăng chủ yếu nhờ các hoạt động du lịch, lễ hội lớn và nhu cầu tiêu dùng tăng cao trước, trong và sau Tết, làm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,36% (lương thực tăng 2,16%; thực phẩm tăng 2,68%; ăn uống ngài gia đình tăng 1,2%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,36%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,43%. Việc triển khai nhiều công trình, dự án trọng điểm làm nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 1,17%; cùng với thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,44%. Thời tiết diễn biến bất thường, dịch bệnh và điều chỉnh lương cơ sở, bảo hiểm y tế làm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,73%; thông tin và truyền thông tăng 0,09%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,04%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,98%. Ở chiều ngược lại, việc điều chỉnh giảm giá xăng, dầu làm nhóm giao thông giảm 3,35%; chính sách miễn, giảm học phí làm nhóm giáo dục giảm 21,27%.

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 12 tăng 3,91% so với tháng trước, tăng 81,97% so với cùng kỳ năm trước, tăng 96,55% so với kỳ gốc 2024; quý IV năm 2025 tăng 174,86%. Bình quân năm 2025 tăng 44,92% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12 tăng 0,13% so với tháng trước, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước, tăng 6,46% so với kỳ gốc 2024; quý IV năm 2025 tăng 4,26%. Bình quân năm 2025 tăng 3,84% so với cùng kỳ năm trước.

b) Chỉ số giá sản xuất quý IV/2025

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2025 tăng 0,42% so với quý trước, tăng 0,86% so với cùng quý năm trước. Chỉ số tăng cả ở 02 nhóm sản phẩm chính cụ thể: Sản phẩm nông nghiệp tăng 0,47% và tăng 0,94%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 0,19% và tăng 0,4%. Chỉ số giảm ở 01 nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 0,3% và giảm 0,19%. 

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý IV/2025 tăng 0,4% so với quý trước, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,23% và tăng 0,72%; nhóm nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,06% và tăng 1,27%; nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,03% và tăng 5,87%; sản phẩm khai khoáng giảm 0,15% và tăng 0,78%.

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý IV/2025 tăng 0,58% so với quý trước, tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý IV tăng so với quý trước là do giá vật liệu xây dựng tăng do chịu ảnh hưởng từ thiên tai lũ lụt; giá sắt thép trên thế giới tăng; nhu cầu thị trường và yếu tố mùa vụ đã tác động làm tăng chỉ số giá. Cụ thể: Nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,38%; nhóm nguyên nhiên liệu chủ yếu dùng cho xây dựng tăng 0,64%, nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,55%.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động, việc làm 

Dân số trung bình tỉnh Điện Biên năm 2025 ước tăng 1,63% so với năm trước, chất lượng dân số được cải thiện. Tình hình lao động, việc làm quý IV, cả năm 2025 có xu hướng tăng; lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của lao động tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước.

Dân số trung bình năm 2025 ước tính là 667.417 người, tăng 10.711 người, tương đương tăng 1,63% so với năm 2024. Trong tổng số, dân số thành thị 92.610 người, chiếm 13,88%; dân số nông thôn 574.807 người, chiếm 86,12%; nam 338.908 người, chiếm 50,78%; nữ 328.509 người, chiếm 49,22%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2025 ước tính là 357.759 người, tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động ở khu vực thành thị có 53.883 người (chiếm 15,06%) và khu vực nông thôn là 303.876 người (chiếm 84,94%). 

Dự tính lao động có việc làm năm 2025 là 355.858 người, tăng 2,53% so với cùng kỳ. Trong đó lao động ở khu vực thành thị là 53.550 người (chiếm 15,05%) và nông thôn là 302.308 người (chiếm 84,95%). Chuyển dịch cơ cấu có xu hưởng giảm tỷ lệ lao động trong các ngành nông, lâm, thủy sản và tăng tỷ lệ lao động ở các ngành xây dựng và dịch vụ.

Theo báo cáo của Sở Nội vụ, quý IV năm 2025, giải quyết việc làm mới cho 2.078 lao động. Tính chung cả năm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm mới cho 10.360 lao động, giảm 6,66% so với cùng kỳ, vượt 12,61% kế hoạch. 

Có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhiều sự lựa chọn cho người lao động, số người thất nghiệp giảm, trong năm 2025 có 1.371 người nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp (quý IV có 513 người); số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 1.342 người (quý IV có 587 người). Tổng số tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp là 27.376,75 triệu đồng (quý IV là 9.907,19 triệu đồng). Tiếp tục thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết chế độ chính sách BHTN cho người lao động trên địa bàn tỉnh.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư năm 2025 trên địa bàn tỉnh được cải thiện, công tác an sinh xã hội, giảm nghèo và chăm lo đời sống nhân dân tiếp tục được quan tâm; các chính sách phúc lợi xã hội được thực hiện đồng bộ, chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục ngày càng được nâng cao. Trong năm, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều lễ hội như: Lễ hội Hoa Ban, Lễ hội thành Bản Phủ, lễ hội Festival tinh hoa Tây Bắc - Điện Biên năm 2025, Lễ hội Ném còn ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc lần thứ IX... là cơ hội thuận lợi cho các ngành nghề dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh và bền vững.

Theo kết quả sơ bộ từ Khảo sát mức sống dân cư năm 2025, thu nhập bình quân đầu người quý IV năm 2025 đạt 2,35 triệu đồng/người/tháng; tính chung năm 2025, ước đạt 2,45 triệu đồng/người/tháng, tăng 1,29% so với năm cùng kỳ. 

Kết quả tổng rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tỷ lệ nghèo đa chiều trên địa bàn toàn tỉnh là 33,25% với tổng số hộ là 47.361 hộ. Trong đó: Tỷ lệ hộ nghèo là 21,29% tương ứng 30.327 hộ; tỷ lệ hộ cận nghèo là 11,96% tương ứng 17.034 hộ.

Công tác an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, các chế độ, chính sách ưu đãi người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời; trọng tâm là đề án hỗ trợ nhà ở cho người có công và chương trình xóa nhà tạm, dột nát được triển khai hiệu quả, hoàn thành 100% kế hoạch với 7.365 căn được xây mới, sửa chữa; tổng kinh phí đã sử dụng là 402.270 triệu đồng.

Trong năm 2025, trao 9.776 suất quà hỗ trợ cho các gia đình chính sách, người có công với tổng giá trị là 4.369,61 triệu đồng nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2025), kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 – 02/9/2025)...

Thực hiện phát miễn phí 476.750 thẻ Bảo hiểm y tế (giảm so với năm trước 622 thẻ). Trong đó: Trẻ em dưới 6 tuổi 75.196 thẻ, bảo trợ xã hội và cựu chiến binh 10.095 thẻ, người nghèo 130.804 thẻ, cận nghèo 3.703 thẻ, người có công và thân nhân 1.288 thẻ, người cao tuổi 113 thẻ, người tham gia kháng chiến 1.348 thẻ, người đã hiến bộ phận cơ thể 4 thẻ, người dân tộc nằm trong vùng đặc biệt khó khăn 247.306 thẻ và người kinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn 6.893 thẻ.

Ngoài ra, để người dân không bị thiếu đói, công tác cấp phát gạo từ nguồn dự trữ quốc gia do Trung ương cấp đã được triển khai kịp thời. Hỗ trợ thiếu đói dịp tết Nguyên đán cho 4.368 hộ (giảm 362 hộ so với cùng kỳ năm trước) với 17.751 khẩu (giảm so với cùng kỳ năm trước 1.599 khẩu), số gạo hỗ trợ 266,49 tấn. Thiếu đói giáp hạt với tổng số hộ thiếu đói là 9.745 hộ (43.868 khẩu) với số gạo được hỗ trợ cứu đói là 846,46 tấn.

Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân khu vực nông thôn. Tính đến tháng 6/2025, trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 26/115 xã, chiếm 22,6% tổng số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (21 xã được công nhận xã nông thôn mới, 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới được công nhận đạt nông thôn mới nâng cao, 02 xã được công nhận đạt nông thôn mới kiểu mẫu). Sau khi sắp xếp lại địa giới hành chính , toàn tỉnh có 42 xã thuộc phạm vi Chương trình, ước đến hết năm 2025 toàn tỉnh có 03/42 xã đạt chuẩn nông thôn mới. 

3. Giáo dục, đào tạo 

Kết quả tốt nghiệp năm học 2024-2025: Học sinh tiểu học hoàn thành chương trình đạt tỷ lệ 99,88%; học sinh trung học cơ sở tốt nghiệp đạt tỷ lệ 99,81%; trung học phổ thông đỗ tốt nghiệp đạt tỷ lệ 99,82%.

Năm học 2025-2026, quy mô trường lớp tiếp tục được rà soát, sắp xếp theo hướng giảm đầu mối, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và của ngành giáo dục. Toàn tỉnh có 480 trường công lập, trung tâm (167 trường mầm non (787 điểm trường mầm non); 295 trường phổ thông (360 điểm trường tiểu học); 17 trung tâm công lập và tư thục; 01 trường cao đẳng sư phạm). So với kế hoạch UBND tỉnh giao vượt 03 trường, trung tâm (480/477 trường, đạt 100,63% kế hoạch giao); với khoảng 7.354 lớp và 206.220 học sinh, sinh viên và học viên . Về tỷ lệ thực hiện kế hoạch tỉnh giao, có 7.354/7.356 lớp, đạt 99,97% kế hoạch; có 206.220/206.631 học sinh, sinh viên và học viên, đạt 99,8% kế hoạch.

Cơ sở vật chất giáo dục mầm non và phổ thông: có 77,26% phòng học được xây dựng kiên cố; 45,14% phòng học bộ môn được xây dựng kiên cố; 54,92% phòng nội trú học sinh được xây dựng kiên cố; 44,50% phòng công vụ giáo viên được xây dựng kiên cố. 

Toàn tỉnh hiện có 391/462 (đạt 84,63%) trường mầm non và phổ thông đạt kiểm định chất lượng giáo dục; có 382/462 trường mầm non và phổ thông được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 82,68%, đạt 99,22% chỉ tiêu kế hoạch UBND tỉnh giao (giao 385 trường) .

Hoàn thành việc thành lập Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Điện Biên; hoàn thành sáp nhập Trường Cao đẳng Nghề Điện Biên và Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên và đổi tên thành Trường Cao đẳng Điện Biên; hỗ trợ nhà đầu tư thành lập Tổ hợp giáo dục FPT.

4. Y tế

a) Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch 

Tình hình dịch bệnh: Trong quý IV, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không có diễn biến bất thường xảy ra. Trong năm, toàn tỉnh ghi nhận 04 ổ dịch với 528 ca mắc , tử vong 01 ca, 100% người bệnh đã được điều trị khỏi (giảm 03 ổ dịch, tăng 391 ca mắc và 01 ca tử vong so với năm 2024). Các ổ dịch đã được điều tra, xác minh, chẩn đoán và triển khai các biện pháp xử lý kịp thời. 

Tình hình mắc các bệnh truyền nhiễm gây dịch: Trong năm 2025, nhìn chung các bệnh truyền nhiễm có số ca mắc giảm so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, một số bệnh có ca mắc tăng như: Sởi, Lỵ trực trùng, Thủy đậu, Tay chân miệng; trong đó đặc biệt là Ho gà (với 02 ca mắc, 01 ca tử vong), bệnh Dại (với 02 ca mắc, 02 ca tử vong).

Công tác phòng chống dịch: Ngành y tế tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn theo Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm ở người năm 2025 của Bộ Y tế và UBND tỉnh, bao gồm: Tăng cường giám sát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác, đặc biệt là các bệnh lây qua đường tiêu hóa và các dịch bệnh theo mùa. Chuẩn bị đủ thuốc, hóa chất, vật tư để chủ động đối phó với dịch, nhất là khi có tình huống khẩn cấp. Tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều hình thức giúp người dân hiểu và chủ động tham gia phòng, chống dịch bệnh …

b) Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS 

Tình hình nhiễm HIV/AIDS vẫn diễn biến phức tạp, tính đến 30/11/2025, có 45/45 xã, phường có người nhiễm HIV. Luỹ tích toàn tỉnh ghi nhận 7.875 ca nhiễm, trong đó có 58 ca mắc mới, giảm 23 ca so với năm 2024; số chuyển AIDS luỹ tích 5.445 ca (không có ca AIDS mắc mới); số tử vong lũy tích 4.237 ca, trong đó tử vong mới là 51 ca (giảm 24 ca so với năm 2024); số còn sống quản lý được 3.418 ca, đạt 94% người nhiễm HIV trên địa bàn. Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%. Tỷ lệ PNCT nhiễm HIV nhận được thuốc ARV/số PNMT nhiễm HIV toàn tỉnh đạt 100%; tỷ lệ người nhiễm HIV có nhu cầu điều trị bằng thuốc ARV tiếp cận được thuốc ARV đạt 91,8%.

c) Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm 

Trong năm 2025, công tác truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, kiểm tra, giám sát về an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán Ất Tỵ và mùa lễ hội Xuân, Lễ hội Hoa Anh Đào, Lễ hội Hoa Ban và các lễ hội khác của tỉnh, tháng hành động vì ATTP...

Đã thành lập 344 đoàn kiểm tra về ATTP; kết quả: Kiểm tra 3.681 cơ sở, 100% số cơ sở đạt yêu cầu về ATTP.

Kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP cho các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm thuộc phân cấp quản lý. Tích lũy cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hoặc ký cam kết đảm bảo ATTP trên địa bàn toàn tỉnh: 2.112/2.128 cơ sở (chiếm 99,2%).

Tính đến 15/12/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm với 21 ca, 02 ca tử vong (cùng kỳ không có ca mắc, 0 tử vong). Nguyên nhân do người dân sử dụng rau củ và thịt, trứng cóc có chứa các độc tố tự nhiên. 100% các vụ ngộ độc thực phẩm được điều tra, xác minh kịp thời.

5. Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và du lịch

a) Sự kiện đặc biệt

Tháng 12, trên địa bàn tỉnh đã tổ chức Lễ hội Ném còn ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc lần thứ IX, năm 2025 với các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, trưng bày sản phẩm và du lịch tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc. Song song với đó là các giải thể Giải leo núi chinh phục đỉnh Pu Tó Cọ và Giải Việt dã thanh, thiếu niên tinh Điện Biên mở rộng năm 2025 nhằm hưởng ứng phong trào rèn luyện thể thao, quảng bá di tích Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ và tạo thêm sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Năm 2025, trên địa bàn tổ chức thành công nhiều hoạt động lớn như: Lễ hội Hoa Ban năm 2025 và Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc tỉnh Điện Biên lần thứ VIII; Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Non sông gấm vóc - Một dải vinh quang” kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); 71 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2025); 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2025); Festival Tinh hoa Tây Bắc - Điện Biên năm 2025; Chương trình nghệ thuật “Vinh quang Việt Nam” và bắn pháo hoa đêm ngày 02/9/2025... thu hút đông đảo người xem, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tri ân các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng. Tỉnh cũng đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thức XV, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

b) Hoạt động quản lý Nhà nước và văn hóa, văn nghệ

Hoạt động nghệ thuật quần chúng: Năm 2025, tổ chức 50 hoạt động văn hóa, văn nghệ; 28 buổi văn nghệ tại Sân hành lễ Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ. Tại cơ sở, các hoạt động văn nghệ quần chúng tiếp tục được tăng cường, toàn tỉnh hiện có 1.250 đội văn nghệ quần chúng, tổ chức trên 3,5 nghìn buổi biểu diễn, phục vụ 450 nghìn lượt người xem, đạt 100% kế hoạch. Các đơn vị phối hợp, dàn dựng và tổ chức 6 hội thi, hội diễn, hoạt động văn hóa, văn nghệ, vượt 200% kế hoạch giao; tổ chức 03 lớp năng khiếu hè và 04 lớp tập huấn nghiệp vụ văn hóa tại cơ sở.

Hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp: Tổ chức xây dựng 06 chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị, vượt 20% kế hoạch. Biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị 135 buổi, vượt 4% kế hoạch, trong đó: Số buổi biểu diễn vùng cao, vùng biên giới 45 buổi, đạt 100% kế hoạch; biểu diễn phục vụ tại trung tâm thành phố 90 buổi, vượt 9% kế hoạch với hơn 290 nghìn lượt người xem, vượt 21% kế hoạch.

Hoạt động hệ thống Thư viện: Thực hiện trao đổi báo xuân với 64 Thư viện các tỉnh, thành phố trong cả nước; sưu tầm 22.532 trang tài liệu địa chí; duy trì và thực hiện 24 số video chuyên mục số video chuyên mục “Sách và cuộc sống” và giới thiệu 300 cuốn sách mới trên Trang thông tin điện tử của đơn vị; mỗi tháng, biên soạn và phát hành 12 số với 312 cuốn điểm báo “Điện Biên qua báo chí Trung ương”; thực hiện 80 cuộc phục vụ xe thư viện lưu động đa phương tiện, đạt 100% kế hoạch. Bổ sung 13.267 bản sách nâng số sách có đến cuối kỳ báo cáo là 159.627 bản sách; cấp mới và đổi 6.661 thẻ bạn đọc đạt 135,9% kế hoạch, trong đó thẻ thiếu nhi 4.614 thẻ đạt 108,6%; phục vụ 332.047 lượt bạn đọc, đạt 132,8% kế hoạch; với 712.185 lượt tài nguyên thông tin được phục vụ, đạt 142,4% kế hoạch.

Hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa: Di sản văn hóa của các dân tộc tiếp tục được bảo tồn, phát huy giá trị, đặc biệt là phát huy giá trị di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ trong phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức sưu tầm 274 hiện vật mới trong năm (Bảo tàng tỉnh 131 hiện vật; Bảo tàng CTĐBP 143 hiện vật), nâng tổng số hiện vật trong hệ thống bảo tàng lên 19.966 hiện vật, đạt 100,2% kế hoạch; bảo quản hiện vật, khảo sát, nghiên cứu và khai thác thông tin về di sản văn hoá . Trong năm, hai Bảo tàng và Ban Quản lý di tích duy trì mở cửa nhà trưng bày và các điểm di tích, phục vụ 451,87 ngàn lượt khách , vượt 5,75% kế hoạch, trong đó có 6.255 ngàn lượt khách nước ngoài, vượt 6,93% kế hoạch.

c) Hoạt động thể dục, thể thao

Về thể dục thể thao quần chúng: Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” ngày càng phát triển và nhân rộng đến nhiều đối tượng với nhiều hình thức, thu hút được đông đảo cán bộ, quần chúng nhân dân tham gia tập luyện. Ước năm 2025, số người tập luyện TDTT thường xuyên trên địa bàn toàn tỉnh là 249.200 người, chiếm 35% trên tổng số dân toàn tỉnh, đạt 100% kế hoạch; số hộ gia đình thể thao là 45.720 hộ, chiếm 24% trên tổng số hộ gia đình toàn tỉnh, đạt 100% kế hoạch; toàn tỉnh có 460 câu lạc bộ TDTT cơ sở, số cán bộ chiến sỹ kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thể lực trên 90%; tổ chức tháng hoạt động TDTT cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân thu hút trên 40 ngàn người tham gia.

Tổ chức các giải thi đấu TDTT trên địa bàn tỉnh: Năm 2025, toàn tỉnh tổ chức 547 giải thi đấu, trong đó: cấp toàn quốc 05 giải; cấp tỉnh 13 giải; cấp ngành 97 giải; cấp xã 336 giải; các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang và các tổ chức khác tổ chức 96 giải. Trọng tâm là Giải vô địch các Câu lạc bộ Dù lượn Quốc gia lần thứ V, năm 2025 tại Lễ hội Đua thuyền đuôi Én lần thứ X; giải vô địch quốc gia Karate khu vực miền Bắc lần thứ V năm 2025; giải vô địch Đẩy gậy quốc gia lần thứ XIX năm 2025; tổ chức các môn thi đấu trước Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Điện Biên lần thứ XII, năm 2026...

Thể thao thành tích cao tiếp tục được quan tâm và đã đạt được những kết quả ấn tượng: Ban hành kế hoạch, thành lập 19 đoàn tham gia thi đấu các giải thể thao khu vực và toàn quốc đạt 43 huy chương các loại. Trong đó: 11 huy chương vàng, 10 huy chương bạc và 22 huy chương đồng, vượt 72% kế hoạch; 04 lượt vận động viên đạt kiện tướng, 04 lượt vận động viên đạt cấp I quốc gia; duy trì hiệu quả công tác huấn luyện, đào tạo 35 vận động viên thể thao thành tích cao của tỉnh, đạt 100% kế hoạch.

d) Lĩnh vực du lịch

Năm 2025, hoạt động du lịch tiếp tục được đầu tư là điểm sáng trong bức tranh tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổ chức các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch Điện Biên tại các hội chợ, sự kiện trong và ngoài nước, hoạt động đã góp phần quảng bá hiệu quả hình ảnh Điện Biên đến đông đảo du khách và doanh nghiệp du lịch trong nước và quốc tế; thường xuyên cập nhật thông tin về các điểm đến, tour tuyến, cơ sở lưu trú và các sản phẩm dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh, duy trì hoạt động quầy thông tin và hỗ trợ, thực hiện tư vấn cung cấp thông tin đối với gần 100 nghìn lượt khách du lịch, gần 150 lượt đơn vị, doanh nghiệp du lịch tìm hiểu về du lịch Điện Biên.

Tổ chức Lễ ký kết Chương trình phối hợp giữa Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Sở Nông nghiệp và Môi trường trong phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch nông thôn hiệu quả và bền vững giai đoạn 2025-2030; thực hiện thoả thuận hợp tác toàn diện giữa UBND tỉnh Điện Biên và Tổng Công ty Hàng không Việt Nam giai đoạn 2025–2028.

Tính chung năm 2025, tỉnh Điện Biên đón trên 1,45 triệu lượt khách du lịch, đạt 100% so với kế hoạch, trong đó khách du lịch quốc tế đạt 14.000 lượt, đạt 4,67% kế hoạch; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.400 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch. Số ngày lưu trú bình quân của khách du lịch ước đạt 3 ngày.

6. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường

a) Tai nạn giao thông

Từ 15/10/2025 đến 14/11/2025, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông làm 08 người chết và 04 người bị thương. Lũy kế từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/11/2025, trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã xảy 81 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 29 người chết, 79 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giảm 16,49%; số người chết giảm 6,45%, số người bị thương giảm 21,78%. Nguyên nhân do người điều khiển sử dụng rượu bia tham gia giao thông, vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định, không quan sát, đi ngược chiều đường, xếp hàng hóa không đúng quy định...

b) Cháy nổ

Từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/11/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy, tăng 46,15% so cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 2.933,3 triệu đồng, giảm 18,92%. Nguyên nhân cháy là do sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn lửa và sự cố thiết bị điện.

c) Vi phạm môi trường

Trong tháng 12/2025, các cơ quan chức năng đã phát hiện 31 vụ vi phạm môi trường và xử lý 29 vụ với tổng số tiền phạt 197,76 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm tăng 34,78%; số vụ đã được xử lý tăng 70,59%; tổng số tiền xử phạt tăng 16,47%. 

Tính chung năm 2025, đã phát hiện 404 vụ vi phạm môi trường và xử lý 428 vụ với tổng số tiền phạt là 2.388,37 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm giảm 14,23%; số vụ đã được xử lý tăng 5,16%; tổng số tiền xử phạt tăng 6,45%. Các vụ vi phạm môi trường chủ yếu là phá rừng làm nương, tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật.

7. Thiệt hại do thiên tai

Năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 đợt thiên tai làm 12 người chết, 19 người bị thương; 4.144 con gia súc, gia cầm bị chết và cuốn trôi; 1.159,64 ha lúa và 372,98 ha rau màu bị hư hỏng; 223 nhà bị hư hỏng; thiệt hại về giao thông, thủy lợi, trường học và các thiệt hại khác. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.378,2 tỷ đồng.

Hỗ trợ thiệt hại thiên tai: Số tiền cứu trợ, khắc phục thiên tai từ đầu năm đến thời điểm báo cáo là 388.500 triệu đồng (Chính phủ hỗ trợ cho tỉnh Điện Biên 290.000 triệu đồng; UBND tỉnh Bắc Ninh hỗ trợ 3.000 triệu đồng; UBND tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ 500 triệu đồng; Tập đoàn Công nghiệp năng lượng quốc gia Việt Nam hỗ trợ 5.000 triệu đồng; Ban vận động cứu trợ Trung ương – UB Trung ương MTTQVN hỗ trợ 20.000 triệu đồng; Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Điên Biên hỗ trợ 40.000 triệu đồng; UBND tỉnh Điện Biên đã trích 30.000 triệu đồng từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh hỗ trợ cho các địa phương bị thiệt hại nặng nề để khắc phục hậu quả thiên tai). Ngoài ra, UBND tỉnh đã Quyết định phân bổ 409 tấn gạo từ nguồn Dự trữ Nhà nước hỗ trợ cứu đói cho người dân các xã. 

Theo thongkedienbien.nso.gov.vn

Xem nhiều nhất